Tóm lược các đời vua Việt Nam từ nhà Đinh đến nhà Nguyễn

Nhà Đinh (968 – 980)

· Đinh Tiên Hoàng (968 – 979) : Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế, tự xưng là Đại Thắng Minh Hoàng đế, tức là Đinh Tiên Hoàng, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư.

· Đinh Phế Đế (979 – 980): Đinh Toàn lên ngôi khi đó mới 6 tuổi. Quyền lực thực tế nằm trong tay Thập đạo tướng quân Lê Hoàn, là nhiếp chính.

Nhà Tiền Lê (980 – 1009)

· Lê Đại Hành (980 – 1005) : Lê Hoàn lên ngôi năm 980 lấy hiệu là Lê Đại Hành lập ra nhà Tiền Lê

· Lê Trung Tông (1006) : Húy là Lê Long Việt lên ngôi được ba ngày thì bị em cùng mẹ là Lê Long Đĩnh giết chết lên thay.

· Lê Ngọa Triều (1006 – 1009) : Lê Long Đĩnh giết vua Lê Trung Tông để cướp ngôi. Lê Long Đĩnh bị bệnh trĩ không ngồi được, phải nằm mà coi chầu nên được gọi là Lê Ngọa Triều.

Nhà Lý (1009 – 1225)
· Lý Thái Tổ (1009 – 1028) : Năm 1009, Lê Ngọa Triều bị triều thần giết chết lúc mới 24 tuổi, điện tiền Lý Công Uẩn lên thay, lập ra nhà Lý. Lý Công Uẩn lên ngôi năm 1009 lấy hiệu là Lý Thái Tổ, nam 1010 thì dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) về Đại La (Hà Nội).

· Lý Thái Tông (1028 – 1054) : Thái tử Phật Mã sau khi dẹp được loạn tam vương lên ngôi, tức là Lý Thái Tông.

· Lý Thánh Tông (1054 – 1072) : Lý Nhật Tôn lên ngôi năm 1054 lấy hiệu là Lý Thánh Tông, đổi quốc hiệu là Đại Việt. Ông là người tài, văn võ song toàn, còn nổi tiếng là một minh quân nhiều đức độ có công phá Tống bình Chiêm.

· Lý Nhân Tông (1073 – 1129) : Húy là Lý Càn Đức, lên ngôi lúc mới 7 tuổi trị vì trong vòng 56 năm. Dưới triều đại Lý Nhân Tông, quân đội nhà Lý dưới sự chỉ huy của Phụ quốc thái úy Lý Thường Kiệt đã đánh bại được đội quân nhà Tống tại trận tuyến trên sông Như Nguyệt năm 1076.

· Lý Thần Tông (1127 – 1138) : Lý Nhân Tông không có con nối giỏi nên lấy con của Sùng Hiền hầu là Lý Dương Hoán cháu gọi bằng bác lập làm Hoàng thái tử.

· Anh Tông (1138 – 1175) : Húy là Lý Thiên Tộ

· Cao Tông (1175 – 1210) : Húy là Lý Long Cán

· Huệ Tông (1210 – 1224) : Húy là Lý Hạo Sảm

· Lý Chiêu Hoàng (1224 – 1225) : còn gọi là Lý Phế hậu hay Chiêu Thánh hoàng hậu, húy là Lý Thiên Hinh. Trong lịch sử Việt Nam, bà là vị Nữ hoàng đầu tiên và duy nhất.

Nhà Trần (1225 – 1400)

· Trần Thái Tông (1225 – 1258) : Húy là Trần Cảnh, dưới triều đại Trần Thái Tông, quân đội nhà Trần vào năm 1257-1258 Thái Tông hoàng đế cùng Thái sư Trần Thủ Độ đã chỉ huy quân đội Đại Việt đánh tan quân Mông Cổ tại trận Đông Bộ Đầu.

· Trần Thánh Tông (1258 – 1278) : Húy là Trần Hoàng, ông là một vị Hoàng đế tài năng, có công rất lớn trong công cuộc xây dựng Đại Việt trở nên hưng thịnh, Ngoài ra, ông rất giỏi về thơ văn, cũng rất sùng Phật giáo.

· Trần Nhân Tông (1279 – 1293) : Húy là Trần Khâm. Ông được sử sách ca ngợi là một trong những vị hoàng đế nổi tiếng anh minh trong lịch sử Việt Nam, có vai trò lãnh đạo quan trọng trong Chiến tranh Nguyên Mông-Đại Việt lần 2 và lần 3. Lúc này, quân đội Đại Việt dưới sự chỉ huy trực tiếp của Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn đã đánh tan tác quân đội hùng mạnh của Nhà Nguyên.

· Trần Anh Tông (1293 – 1314) : Húy là Trần Thuyên. Trần Anh Tông là một vị minh quân. Trong triều lại có những người tài giỏi hết lòng giúp việc nước; Về văn có Trương Hán Siêu, Đoàn Nhữ Hài; võ có Phạm Ngũ Lão, Lê Trung Hiển đều là những người tài giỏi. Năm 1301 Trần Anh Tông nhận lời mời, du ngoạn Chiêm Thành, được vua Chiêm Thành là Chế Mân tiếp đãi nồng hậu, khi ra về, Trần Nhân Tông có hứa gả con gái là Huyền Trân cho Chế Mân. Năm 1306, Chế Mân dâng hai châu Ô, Rý (còn gọi là Lý) làm hồi môn, vua Trần Anh Tông đồng ý gả Huyền Trân cho Chế Mân. Huyền Trân về Chiêm Thành, được phong làm hoàng hậu. Một năm sau đó, khi hoàng hậu Huyền Trân vừa sinh xong hoàng tử Chế Đa Đa, thì tháng 5 năm 1307, quốc vương Chế Mân băng hà. Thế tử Chiêm sai sứ sang Đại Việt báo tang. Theo tục nước Chiêm, khi vua chết hoàng hậu phải lên giàn hỏa để tuẫn tang. Vua Trần Anh Tông biết tin, sai Trần Khắc Chung vờ sang viếng tang, tìm cách cứu Huyền Trân. Trần Khắc Chung bày kế thành công, đưa Huyền Trân xuống thuyền về Đại Việt bằng đường biển.

· Trần Minh Tông (1314 – 1329) : Húy là Trần Mạnh. Trần Minh Tông tuy nối ngôi còn trẻ, nhưng vốn thông minh, tài trí, sự hưng thịnh tiếp tục được mở mang. Vì biết tôn trọng kẻ sĩ, nên Minh Tông đã có dưới trướng mình những hiền thần như Đoàn Nhữ Hài, Phạm Ngũ Lão, Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn, Chu Văn An phụ giúp.

· Trần Hiến Tông (1330 – 1341) : Húy là Trần Vượng

· Trần Dụ Tông (1342 – 1369) : Húy là Trần Hạo

· Dương Nhật Lễ (1369 – 1370) : Ông vốn là con của kép hát Dương Khương. Mẹ ông là vợ Dương Khương, đã có mang ông nhưng mẹ ông đã bị Cung Túc vương Trần Nguyên Dục, anh vua Trần Dụ Tông lấy làm vợ. Khi ông sinh ra, Cung Túc vương Dục nhận làm con mình.

· Trần Nghệ Tông (1371 – 1372) : Húy là Trần Phủ. Từ thời Nghệ Tông còn tại vị, Chiêm Thành đã mang quân cướp phá theo lời cầu cứu của mẹ Dương Nhật Lễ. Nghệ Tông không chống nổi, phải bỏ chạy về Đông Ngàn. Quân Chiêm chiếm được kinh thành Thăng Long, đốt phá Hoàng cung, đã thế còn bắt bớ phụ nữ, sau đó mới thu quân về nước.

· Trần Duệ Tông (1372 – 1377) : Húy là Trần Kính. Trần Duệ Tông là vị Hoàng đế duy nhất trong lịch sử Việt Nam bị tử trận khi đương quyền trong chiến tranh với Chiêm Thành.

· Trần Phế Đế (1377 – 1388) : Húy là Trần Hiện

· Trần Thuận Tông (1388 – 1398): Húy là Trần Ngung. Thuận Tông hoàng đế lên ngôi còn nhỏ tuổi, mọi việc trong ngoài đều không nắm được, Hồ Quý Ly nhân đó lãnh quyền lực tối cao. Dưới triều Trần Thuận Tông tiền giấy được phát hành lần đầu tiên năm 1396.

· Trần Thiếu Đế (1398 – 1400): Húy là Trần An. Hồ Quý Ly thao túng triều đình nhà Trần, sau khi phế truất Thuận Tông, ông ta đưa Thiếu Đế lên ngôi nhằm từng bước đoạt ngôi của nhà Trần. Thiếu Đế tuy gọi là Hoàng đế nhưng chỉ là hư vị. Sau khi Thiếu Đế lên ngôi, Quý Ly tự xưng là Khâm Đức Hưng Liệt Đại vương.

Nhà Hồ (1400 – 1407)

· Hồ Quý Ly (1400 – 1401): Năm 1400 Hồ Quý Ly ép Trần Thiếu Đế nhường ngôi cho minh lập nên nhà Hồ. Hồ Quý Ly lập thuế thuyền buôn, định 3 mức thượng, trung, hạ.

· Hồ Hán Thương (1401 – 1407): Dưới triều Hồ Hán Thương, năm 1401 đã cho làm sổ hộ tịch trong cả nước, lập phép hạn chế gia nô. Năm 1401, lập kho thường bình dự trữ thóc để ổn định kinh tế. Năm 1403, ban hành cân, thước, thưng, đấu, định giá tiền giấy cho dân mua bán với nhau.

Nhà Hậu Trần (1407-1413)

· Giản Định Đế (1407 – 1409) : Húy là Trần Ngỗi

· Trùng Quang Đế (1409 – 1414) : Húy là Trần Quý Khoách. Từ dưới thời Giản Định Đế, quân nhà Mình không ngừng đánh phá, đến năm 1412 thì càng đánh nhau ác liệt. Quân đội nhà Hậu Trần càng ngày càng bị thất thế, các tướng lãnh lần lượt bị bắt. Trùng Quang Đế chạy sang nước Lão Qua cuối cùng cũng bị bắt. Đầu năm 1414, vua Trùng Quang cùng các bầy tôi bị giải về Tàu. Giữa đường, Trùng Quang Đế nhảy xuống nước tự vẫn. Các bầy tôi của ông là Đặng Dung, Nguyễn Súy sau đó cũng đều tự vẫn.

Thời Minh thuộc (1414-1427)

· Trần Cảo (1426 – 1428) : Húy là Hồ Ông, là vị vua bù nhìn do thủ lĩnh nghĩa quân Lam Sơn là Lê Lợi lập vào cuối thời kỳ Minh thuộc. Khi khởi nghĩa Lam Sơn bước vào giai đoạn thắng lợi quyết định, tướng nhà Minh là Vương Thông bị thua trận nặng ở Tuỵ Động, phải cố thủ trong thành Đông Quan. Để tìm cách kìm hãm sự phát triển của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, chia rẽ nội bộ người Việt, Vương Thông liền viện cớ tìm lại tờ chiếu của vua Minh Thành Tổ năm 1407 khi đánh nhà Hồ, có nội dung muốn lập lại con cháu nhà Trần mà đòi thủ lĩnh quân Lam Sơn là Lê Lợi phải lập con cháu nhà Trần mới đồng ý giảng hoà và rút quân về nước. Lê Lợi bèn sai người tìm con cháu nhà Trần. Theo sử sách, gặp lúc đó Hồ Ông lánh nạn ở châu Ngọc Ma, tự xưng là cháu nội vua Trần Nghệ Tông, được tù trưởng châu Ngọc Ma là Cầm Quý tiến cử với Lê Lợi. Để đối phó với yêu sách của Vương Thông, muốn quân Minh nhanh chóng rút về, Lê Lợi đồng ý lập Trần Cảo làm vua, với danh nghĩa kế tục nhà Hậu Trần, đặt niên hiệu là Thiên Khánh, còn Lê Lợi tự xưng là Vệ quốc công.

Nhà Hậu Lê (1428 – 1789)

· Thái Tổ (1428 – 1433) : Húy là Lê Lợi, là người khởi xướng khởi nghĩa Lam Sơn chiến thắng nhà Minh, giành lại độc lập cho nước Đại Việt và trở thành vị vua sáng lập của nhà Hậu Lê. Cuối năm 1427, vua Minh Tuyên Tông điều viện binh cứu Vương Thông, sai Liễu Thăng mang 10 vạn quân tiến sang từ Quảng Tây; Mộc Thạnh mang 5 vạn quân từ Vân Nam kéo sang. Biết cánh Liễu Thăng là quân chủ lực, ông sai Lê Sát, Lê Nhân Chú, Lê Lãnh, Đinh Liệt, Lê Thụ mang quân phục ở Chi Lăng. Tướng trấn giữ biên giới là Trần Lựu liên tục giả cách thua chạy từ Ải Nam Quan về Ải Lưu rồi lại lui về Chi Lăng. Ngày 18 tháng 9 âm lịch, Liễu Thăng đuổi đến Chi Lăng. Trần Lựu lại thua, Liễu Thăng đắc thắng mang 100 quân kị đi trước. Ngày 20, Thăng bị phục binh của Lê Sát, Trần Lựu đổ ra chém chết. quân Minh đại bại phải rút về. Từ đây, việc binh đao chấm dứt, khắp thiên hạ thái bình. Lê Lợi sai Nguyễn Trãi thảo bài Bình Ngô đại cáo để bá cáo cho thiên hạ biết về việc đánh quân Minh.

· Thái Tông (1433 -1442) : Húy là Lê Nguyên Long, Lê Thái Tông lên ngôi khi mới 11 tuổi nhưng đã tỏ ra là vị Hoàng đế anh minh. Cuối tháng 7 năm 1442, Thái Tông hoàng đế đi tuần phía đông, đầu tháng 8 đến Côn Sơn, nơi ở của Hành khiển Nguyễn Trãi. Ngày 4 tháng 8, Lê Thái Tông về đến Lệ Chi Viên, có Nguyễn Thị Lộ theo hầu. Sử sách chép: “Đế thức suốt đêm hôm đó với Nguyễn Thị Lộ rồi qua đời”. Đây chính là Vụ án Lệ Chi Viên nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam.

· Nhân Tông (1443 – 1459) : Húy là Lê Bang Cơ, Lê Nhân Tông là người độ lượng với các công thần khai quốc có tội bị xử tử trước đây, từ thời Thái Tổ Cao hoàng đế, Lê Thái Tông đến khi Nguyễn Thái hậu chấp chính. Ngay khi ra cầm chính sự, ông ra nhiều chiếu chỉ biểu dương công lao của họ, hoặc trả lại của cải, ruộng đất cho con cháu họ.

· Lê Nghi Dân (1459 – 1460) : Lê Nghi Dân sinh ra là con trưởng, trước kia từng được lập Hoàng thái tử, sau đó bị phế truất làm phiên vương do mẹ là Dương phi bị thất sủng và bị giáng làm thứ nhân. Em trai của ông là Lê Bang Cơ được lập làm Hoàng thái tử thay thế ông. Về sau, Lê Nghi Dân làm binh biến, lật đổ em trai ông là Lê Nhân Tông, tự lập lên ngôi vị.

· Thánh Tông (1460 – 1497) : Húy là Lê Tư Thành, trong thời kỳ cầm quyền của Lê Thánh Tông, nước Đại Việt phát triển rực rỡ về mọi mặt từ kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, quân sự và trở thành một cường quốc, cũng như đã khiến Quân chủ chuyên chế Việt Nam đạt đến đỉnh cao. Thời kỳ này được gọi là thời kỳ thịnh trị Hồng Đức. Bộ Quốc triều hình luật của nhà Hậu Lê đã được hoàn thiện trong thời Lê Thánh Tông, nên còn được gọi là Luật Hồng Đức. Với bộ luật này, Đại Việt đã hình thành một nhà nước pháp quyền sơ khởi và thuộc loại sớm trên thế giới.

Việc biên soạn Lịch sử được Lê Thánh Tông ý thức hơn hết, với tư cách là những công cụ để nối liền đạo thống; khôi phục xây dựng kho tư liệu sử liệu dân tộc sau giai đoạn bị triệt tiêu văn hóa, sách vở thời Minh thuộc. Năm 1479 vua Lê Thánh Tông đã ra chỉ dụ lệnh cho Ngô Sỹ Liên biên soạn bộ Đại Việt sử ký toàn thư.

Vào năm 1483, Lê Thánh Tông chủ biên bộ sách Thiên Nam dư hạ tập sai các văn thần như Đỗ Nhuận, Nguyễn Trực biên soạn. Sách được biên soạn theo loại sách hội yếu, thông điển, gồm 100 quyển ghi chép đầy đủ các chế độ, luật lệ, văn thư, điển lệ, các giấy tờ văn thư hành chính (như chiếu, dụ, cáo, sắc…). Hiện nay, bộ sách thất lạc gần hết, chỉ còn lại 10 tập chép tay viết về các mảng quan chế, điều luật, bản đồ, sớ văn; Thơ, văn, điển lệ, điều luật, chinh chiến, quan chức, thiên văn, địa lí, lịch sử… của nhà Lê, từ Lê Thánh Tông trở về trước. Cụ thể như sau:

1. Điều luật và Quan chế.
2. Bình thi văn.
3. Liệt truyện, Tạp thức.
4. Khảo sử.
5. Thi tập; Đối liên.
6. Phú tập.
7. Thi tiền tập; Chinh tây kỉ hành; Minh lương cẩm tú và Quỳnh uyển cửu ca.
8. Chinh Chiêm Thành sự vụ; Chinh Tây kỉ hành.
9. Điển lệ; Phú tập.
10. Thiên hạ bản đồ; Quan chế

Lê Thánh Tông còn là một nhà thơ và phê bình văn học, vừa sáng tác văn thơ, vừa nghiên cứu và phê bình .

· Hiến Tông (1497 – 1504) : Húy là Lê Tranh, Lê Hiến Tông là một vị hoàng đế thông minh, nhân từ và ôn hoà. Thường sau khi bãi triều, Hiến Tông ra ngồi nói chuyện với các quan. Ai có điều gì phải trái, ông nhẹ nhàng khuyên bảo, chứ không gắt mắng bao giờ.

· Túc Tông (1504) : Húy là Lê Thuần, Lê Túc Tông trị vì trong vòng 6 tháng rồi lâm bệnh và mất sớm vào cuối năm 1504, hưởng dương 17 tuổi.

· Lê Uy Mục (1505 -1509) : Húy là Lê Tuấn, Lê Uy Mục từ khi lên ngôi, đêm nào cũng cùng với cung nhân uống rượu, rồi đến khi say thì giết đi. Phó sứ thần Trung Quốc là Hứa Thiên Tích sang đi sứ, trông thấy Uy Mục, làm thơ gọi Lê Uy Mục là Quỷ vương

· Lê Tương Dực (1510 – 1516) : Húy là Lê Oanh, Lê Tương Dực được đánh giá là người có công khi lật đổ Lê Uy Mục, sửa sang việc học, khôi phục văn miếu, xứng đáng kế thừa sự nghiệp vẻ vang của Lê Thái Tổ, Lê Thánh Tông, làm rạng danh cơ nghiệp.

· Lê Quang Trị (1516)

· Lê Chiêu Tông (1516 – 1526) : Húy là Lê Y, Chiêu Tông dòng dõi tông thất, lên ngôi còn thơ ấu, trong nước rối ren, mọi việc đều do Nguyên quận công Trịnh Duy Sản chủ trương, dẹp được loạn Trần Cảo. Nhưng sau khi Duy Sản chết, Mạc Đăng Dung lấn vượt, cơ nghiệp nhà Lê tiêu vong.

· Lê Bảng (1518 – 1519)

· Lê Do (1519)

· Lê Cung Hoàng (1522 – 1527) : Húy là Lê Xuân, Lê Cung Hoàng lên ngôi trở thành bù nhìn, bị quyền thần Mạc Đăng Dung không chế, thực tế không hề có quyền hạn. Vận nước đã hết, tài năng Cung Hoàng lại không có, về sau ông bị Mạc Đăng Dung giết chết.

Nhà Mạc (Bắc Triều 1527 – 1592)

· Mạc Thái Tổ (1527 – 1530) : Húy là Mạc Đăng Dung, ông là người sáng lập ra triều đại nhà Mạc. Giai đoạn này người sau gọi là thời kỳ Lê-Mạc phân tranh hay thời kỳ Nam-Bắc triều của Đại Việt. Nhà Mạc do ông dựng lên không những chỉ phải lo khôi phục sơn hà xã tắc đã suy kiệt từ cuối thời kỳ Lê sơ mà còn phải chống chọi lại với phản ứng rất mãnh liệt của phần lớn các cựu thần nhà Hậu Lê với tư tưởng trung quân của Nho giáo, chẳng hạn như sách Cương mục có viết Đăng Dung sợ lòng người tưởng nhớ nhà Lê cũ, sinh ra biến cố, nên phàm việc đều noi theo chế độ triều Lê, do vậy các sửa đổi của ông về mọi quy chế trong nước là không nhiều.

· Mạc Thái Tông (1530 – 1540) : Húy là Mạc Đăng Doanh, Mạc Thái Tông là người chú trọng việc khoa cử. Ông mở các khoa thi đều đặn 3 năm một lần và chọn được nhiều nhân tài, điển hình là Nguyễn Thiến (đỗ đầu khoa thi năm 1532) và Nguyễn Bỉnh Khiêm (đỗ đầu năm 1535), Giáp Hải (đỗ đầu năm 1538). Đầu năm 1536, ông sai Khiêm quận công Mạc Đình Khoa tu sửa lại trường Quốc Tử Giám.

· Mạc Hiến Tông (1540 – 1546) : Húy là Mạc Phúc Hải, trong thời gian làm vua, Mạc Hiến Tông cho đúc tiền Quảng Hòa thông bảo. Ông tiếp tục có những cải cách tiến bộ: công cấp điền địa và cũng coi trọng nghề văn. Trong 6 năm ông đã cho mở hai khoa thi để kén chọn hiền tài

· Mạc Chính Trung (1546 – 1547) : Húy là Mạc Chính Trung, Mạc Hiến Tông mất trong lúc nhà Mạc đang có chiến tranh với nhà Lê trung hưng. Hoàng thân Mạc Kính Điển (em Hiến Tông) cùng thái sư Nguyễn Kính muốn theo lệ tôn lập con Hiến Tông là Mạc Phúc Nguyên nhưng một đại thần khác là Phạm Tử Nghi phản đối, lập Mạc Chính Trung vì vậy trong triều nảy sinh mâu thuẫn, xảy ra việc tranh chấp ngôi báu nhà Mạc.

· Mạc Tuyên Tông (15447 – 1561) : Húy là Mạc Phúc Nguyên, Mạc Phúc Nguyên lên thay khi còn nhỏ tuổi. Tất cả công việc triều chính đều trông cậy vào chú ruột là Mạc Kính Điển.

· Mạc Mậu Hợp (1561 – 1592) : Trong một thời gian khá dài từ cuộc tranh chấp giữa anh em họ Trịnh, quân Nam không đủ khả năng tấn công ra bắc. Tuy nhiên sau khi Mạc Kính Điển mất, quân Nam triều bắt đầu phản công trở lại và dần dần chiếm ưu thế trên chiến trường. Mạc Mậu Hợp không chú trọng tới chính sự càng khiến tinh thần quân bắc kém đi.

· Mạc Toàn (1592) : Mạc Toàn lên ngôi khi còn ít tuổi, lực lượng nhỏ yếu, không được nhân tâm ủng hộ. Thế cô, ông phải ngầm trốn theo hoàng thân Mạc Kính Chỉ mới xưng hiệu là Bảo Định, bản thân chỉ dùng hiệu là Vũ An vương. Tuy nhiên đến ngày 14 tháng giêng năm 1593, ông cũng bị quân Trịnh bắt được và đem chém đầu tại bến Thảo Tân cùng Mạc Kính Chỉ và nhiều tông thất nhà Mạc

· Mạc Kính Chỉ (1592 – 1593) : Mạc Kính Chỉ xưng vua được 3 tháng.

· Mạc Kính Cung (1593 – 1625) : Mạc Kính Cung xưng vua được ba mươi tư năm, suốt thời gian đó ông chiến đấu liên miên với hai đời chúa Trịnh: Trịnh Tùng, Trịnh Tráng.

· Mạc Kính Khoan (1625 – 1638) : Mạc Kính Khoan làm theo chủ trương mà Mạc Ngọc Liễn dặn lại, không đối đầu với quân Lê Trịnh hùng hậu mà chủ động tránh. Để bảo toàn lực lượng ít ỏi, Mạc Kính Khoan trá hàng nhà Lê.

Sau một thời gian cố thủ tại Cao Bằng, ông sai người dâng biểu về triều xin quy thuận. Lê Thần Tông cũng thấy không thể diệt ngay hết được nhà Mạc nên thuận phong Mạc Kính Khoan chức Thông quốc công và giao trấn giữ vùng biên giới.

· Mạc Kính Vũ (1638 – 1677) : Chúa Trịnh ba lần mang quân lên đánh Cao Bằng năm 1662, 1666 và 1667 nhưng đều không thắng. Đặc biệt năm 1666, Mạc Kính Vũ bắt giết được tướng Lê Trịnh là Lê Sĩ Trí. Khi đại quân Trịnh kéo đến, Kính Vũ lại bỏ chạy sang đất nhà Thanh. Năm 1667, quân Trịnh kéo tới, ông lại bỏ chạy sang Trung Quốc. Khi quân Trịnh rút đi, ông lại trở về căn cứ. Mạc Kính Vũ trấn giữ Cao Bằng tất cả 40 năm, lâu nhất trong các vua họ Mạc thời hậu kỳ.

Nhà Lê Trung Hưng (Nam Triều 1533 – 1788)

· Lê Trang Tông (1533 – 1548) : Húy là Lê Ninh, giai thoại dân gian kể rằng Lê Duy Ninh ngày bé tên là Chổm, mẹ ông từng tình cờ được gặp vua Lê Chiêu Tông một lần khi vua đang bị Mạc Đăng Dung giam lỏng ở phường Đông Hà; sau đó có mang và sinh ra Chổm.

Chổm lớn lên nhà nghèo, phải đi vay mọi người để sống qua ngày và hứa sẽ trả đủ nợ. Bỗng gặp lúc Nguyễn Kim khởi binh chống nhà Mạc, tìm được Chổm là dòng dõi nhà Lê nên lập làm vua.

Công cuộc diệt Mạc thắng lợi, vua Chổm trở lại kinh thành Thăng Long. Khi đi qua làng cũ chỗ mẹ con Duy Ninh lánh nạn, một số người bán chịu cho Ninh ngày xưa đổ lại đòi tiền. Họ không biết Duy Ninh làm chức gì nhưng thấy được đi xe giá, quân lính hộ vệ thì chắc là Ninh đã thành đạt, nên họ nhắc lại lời hứa của Ninh. Có nhiều người không phải là chủ nợ nhưng cũng đổ xô lại yêu cầu, đòi hỏi. Người người tấp nập đầy đường, chỉ vào vua mà đòi nợ.

Nhà vua không biết ai và cũng không biết làm sao mà trả cho hết nên truyền miễn thuế một năm cho dân cả làng để trừ. Mặt khác, triều đình ra lệnh cấm những người đòi nợ được chỉ tay xúc phạm vua. Do đó con đường nhỏ có tên là Cấm Chỉ – ngõ có tên tồn tại đến ngày nay ở Hà Nội.

“Nợ như chúa Chổm” trở thành một thành ngữ để ám chỉ những người thiếu nợ quá nhiều.

· Lê Trung Tông (1548 – 1556) : Húy là Lê Huyên, thời Lê Trung Hưng, khoa thi Chế đầu tiên được tổ chức vào năm 1554 tại hành cung Vạn Lại (Thanh Hóa).

· Lê Anh Tông (1556 – 1573) : Húy là Lê Duy Bang, thời kỳ Lê Anh Tông làm vua, nhà Lê chỉ kiểm soát địa bàn từ Thanh Hóa trở vào nam. Phía bắc là vùng đất thuộc nhà Mạc kiểm soát.

· Lê Thế Tông (1573 – 1599) : Húy là Lê Duy Đàm. Vua Thế Tông cai trị trong thời kì mà Trịnh Tùng đã chiếm được kinh thành từ tay nhà Mạc. Kể từ đây, quyền lực thực sự đã rơi vào tay Trịnh Tùng, vua không có thực quyền trong tay, bắt đầu thời kì được gọi là thời Vua Lê-chúa Trịnh.

· Lê Kính Tông (1599 – 1619) : Húy là Lê Duy Tân. Năm 1599, Tả tướng Trịnh Tùng đòi vua Lê Thế Tông phải phong cho mình làm Đô nguyên suý tổng quốc chính thượng phụ Bình An vương, là chức quan cao nhất trong triều, chỉ đứng sau vua. Ông lại cho xây phủ chúa ở ngay bên cạnh triều đình vua Lê; và từ đó phủ chúa trở thành nơi bàn định công việc của đất nước; triều đình chỉ còn là hư danh, vua Lê chỉ có 5000 lính túc vệ; thuế 1000 xã để chi dụng. Còn những việc đặt quan, thu thuế, bắt lính, trị dân, đều thuộc về quyền họ Trịnh cả. Chỉ có khi nào thiết triều hay là tiếp sứ thì mới cần đến vua mà thôi. Đó là bắt đầu sự nghiệp 200 năm của các chúa Trịnh ở Đàng Ngoài.

· Lê Thần Tông (1619 – 1643) : Húy là Lê Duy Kỳ, là vị Vua Việt Nam duy nhất hai lần lên ngôi, có đến 4 người con đều làm vua và là vị vua Việt Nam đầu tiên lấy vợ phương Tây cũng như là vua có nhiều vợ là người các dân tộc.

· Lê Chân Tông (1643 – 1649) : Húy là Lê Duy Hựu. Lê Thần Tông làm vua được 7 năm, thọ 20 tuổi.

· Lê Thần Tông (1649 – 1662) : Húy là Lê Duy Kỳ, Lê Thần Tông lên ngôi lần thứ hai sau khi Lê Chân Tông mất mà không con nối dõi.

· Lê Huyền Tông (1663 – 1671) : Húy là Lê Duy Vũ, khi mới lên ngôi, nhà vua cho thông sứ với nhà Thanh, và cấm đạo Thiên chúa.

· Lê Gia Tông (1671 – 1675) : Húy là Lê Duy Cối, Lê Gia Tông có diện mạo khôi ngô, thân hình vạm vỡ, được đánh giá là người có tính khoan hòa, là một vị vua độ lượng.

· Lê Hy Tông (1675 – 1705) : Húy là Lê Duy Hợp, Lê Hy Tông được người đời ca ngợi là vị vua anh minh đức độ bậc nhất thời Lê Trung Hưng.

· Lê Dụ Tông (1705 – 1729) : Húy là Lê Duy Đường, Lê Dụ Tông thừa hưởng cơ nghiệp thái bình, không xảy binh đao, trong nước vô sự, triều đình có làm được nhiều việc. Pháp độ được rất đầy đủ, kỷ cương thi hành được hết. Xứ xa lạ thì dâng lễ vật tỏ lòng thành, Trung Quốc thì trả lại đất. Có thể gọi là đường cực thịnh.

· Lê Đế Duy Phường (1729 – 1732) : Húy là Lê Duy Phường, năm 1732, Trịnh Giang vu cho vua tư thông với vợ Trịnh Cương nên phế bỏ rồi bị Trịnh Giang sai người giết vào tháng 9 năm 1735.

· Lê Thuần Tông (1732 – 1735) : Húy là Lê Duy Tường

· Lê Ý Tông (1735 – 1740) : Húy là Lê Duy Thận, tháng 5 năm 1740, Trịnh Doanh ép ông nhường ngôi cho Lê Duy Diêu.

· Lê Hiển Tông (1740 – 1786) : Húy là Lê Duy Diêu, tháng Bảy năm 1786, tướng Tây Sơn là Nguyễn Huệ với chiêu bài “phù Lê diệt Trịnh” kéo quân ra Thăng Long đánh đổ Trịnh Khải và ngỏ ý tôn phù Lê Hiển Tông. Hiển Tông gả công chúa Lê Ngọc Hân cho Nguyễn Huệ.

· Lê Chiêu Thống (1786 – 1788) : Húy là Lê Duy Khiêm được Nguyễn Huệ lập lên làm vua năm 21 tuổi. Lê Chiêu Thống đã sang cầu viện nhà Thanh đem quân sang đánh Quang Trung với hy vọng trở lại ngai vàng. Việc làm đó của ông bị một số nhà sử học trong nước sau này chỉ trích dữ dội, coi đó là hành vi “bán nước”, “cõng rắn cắn gà nhà”.

Chúa Trịnh (1545-1786)

· Trịnh Kiểm (1545 – 1570 : là người mở đầu sự nghiệp nắm quyền của họ Trịnh và gián tiếp tạo nên tình trạng vua Lê – chúa Trịnh tại Bắc Hà cũng như là đầu mối của chiến tranh Trịnh-Nguyễn sau này.

Đương thời khi cầm quyền ông không xưng là chúa nhưng được đời sau truy tôn là Thái Vương. Ông là người nắm quyền chỉ huy quân đội trong triều các vua Lê thời Nam Bắc triều từ năm 1545 tới khi mất (18 tháng 2 năm Mậu Ngọ, 1570).

· Trịnh Cối (1570) : Trịnh Cối ham mê tửu sắc, các tướng dưới quyền không phục. Do đó, chỉ hai tháng sau khi Trịnh Kiểm mất, tháng 4 nǎm Canh Ngọ (1570), các quan tướng cũ của Trịnh Kiểm như Lê Cập Đệ, Trịnh Vĩnh Thiệu, Trịnh Bách, Phan Công Tích đem quân bản bộ đến với Trịnh Tùng, yêu cầu Tùng lên thay Trịnh Cối.

· Trịnh Tùng (1570 – 1623) : Sau khi Trịnh Kiểm qua đời, Trịnh Tùng nổi dậy đánh đuổi anh là Trịnh Cối, đoạt lấy binh quyền Nam triều. Năm 1573, ông lật đổ vua Lê Anh Tông và đưa vua nhỏ Lê Thế Tông lên làm vua bù nhìn, bản thân nắm hết quân quốc đại sự. Năm 1592, Trịnh Tùng xuất quân bắc phạt, giành lại kinh thành Thăng Long, hoàn thành sự nghiệp trung hưng triều Lê. Sau đó, ông buộc nhà vua phải phong cho mình tước vương và lập con làm thế tử, thiết lập phủ chúa tại thành Thăng Long, chính thức mở ra cơ đồ 200 năm của họ Trịnh. Những năm tiếp theo, Trịnh Tùng lo việc đối phó với dư đảng họ Mạc ở phía bắc và sự trỗi dậy của họ Nguyễn ở phương nam.

· Trịnh Tráng (1623 – 1652) : Thời Trịnh Tráng, xung đột Trịnh-Nguyễn chính thức bùng phát. Từ năm 1625, chúa Nguyễn Phúc Nguyên không còn nộp thuế cho chính quyền Lê-Trịnh, lại theo kế của Đào Duy Từ, đắp luỹ ở bờ nam cửa bể Nhật Lệ để tự thủ.

Ngày 28 tháng 5 năm 1657, Trịnh Tráng mất giữa lúc cuộc chiến Trịnh-Nguyễn vào thời kì khốc liệt nhất, thọ 81 tuổi, cầm quyền 34 năm (1623 – 1657).

· Trịnh Tạc (1653 – 1682) : Trong thời gian cai trị của ông, quân Trịnh đã giành được một số thắng lợi quân sự: dẹp yên thế lực chúa Bầu họ Vũ ở Tuyên Quang và họ Mạc ở Cao Bằng, giành lại vùng đất phía bắc sông Gianh từ tay chúa Nguyễn. Từ sau năm 1672, chiến tranh Trịnh – Nguyễn chấm dứt, Trịnh Tạc bắt tay vào việc xây dựng đất nước, thực hiện cải cách trên lĩnh vực chính trị – kinh tế và đạt một số thành tựu, đưa họ Trịnh vào thời kì đỉnh cao thịnh trị.

· Trịnh Căn (1682 – 1709) : Sự nghiệp của Trịnh Căn chính là gạch nối cơ bản giữa thời Trịnh-Nguyễn phân tranh và thời thịnh trị của Đàng Ngoài. Ông là người chỉ huy có công chặn đứng thế bắc tiến của Chúa Nguyễn, giữ hoà bình cho Bắc Hà và đưa miền bắc Đại Việt vào thời kỳ phát triển phồn thịnh trở lại sau nhiều năm binh lửa.

· Trịnh Cương (1709 – 1729) : Trong thời gian cai trị, Trịnh Cương có đề ra một số chính sách cai trị mới nhằm ổn định tình hình chính trị xã hội ở Đàng Ngoài, thời đại của ông có thể nói là tương đối ổn định trong khoảng 200 năm cai trị của các chúa Trịnh. Tuy nhiên ông ham thích tuần du, đề ra các công trình xây dựng tốn kém để phục vụ nhu cầu cá nhân, khiến nhân dân đói khổ, mầm mống suy vong của họ Trịnh cũng xuất hiện kể từ đó. Sau khi ông qua đời, Dụ Tổ Thuận vương Trịnh Giang nối ngôi, họ Trịnh chính thức đi vào con đường suy vong.

· Trịnh Giang (1729 – 1740) : Trịnh Giang làm nhiều việc mất lòng người như giết vua và nhiều đại thần được trọng vọng; lại sa vào con đường ăn chơi xa xỉ, tin dụng hoạn quan, gian nịnh khiến chính sự ngày càng đổ nát, cơ đồ của họ Trịnh rơi vào con đường suy vong. Đến nửa cuối giai đoạn trị vì của ông, các cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra, thành một làn sóng mạnh mẽ khắp Đàng Ngoài càng làm lung lay sự thống trị của họ Trịnh.

· Trịnh Doanh (1740 – 1767) : Trịnh Doanh chú tâm vào việc đánh dẹp các cuộc nổi dậy của nông dân trong nước, và trong vòng 10 năm thì tình hình cơ bản đã tạm yên. Ngoài ra ông cũng cố gắng đưa ra một số biện pháp cải cách để chấn hưng đất nước và xoa dịu sự bất bình của nhân dân, song không thể cứu vãn sự suy thoái của chính quyền Lê-Trịnh.

· Trịnh Sâm (1767 – 1782) : sau khi Trịnh Doanh qua đời, Trịnh Sâm lên nối ngôi. Trong những năm đầu cai trị, ông chính thức hoàn thành công cuộc đánh dẹp các cuộc khởi nghĩa nông dân, sửa sang nền chính trị và tiến hành nam chinh, thu được đất Thuận Hóa; bên trong tiếp tục hiếp chế vua Lê, giết chết thái tử Duy Vĩ. Từ sau năm 1775, Trịnh Sâm ngày càng sa vào tửu sắc, chính trị suy bại, cuộc sống người dân trở nên cơ cực.

· Trịnh Cán (1782) : Trịnh Cán lên ngôi mới 6 tuổi. Tuyên phi Đặng Thị Huệ trở thành người điều khiển triều chính giúp con cùng với Huy quận công Hoàng Đình Bảo khiến quân đội và nhân dân bất bình.

Tháng 10 nǎm 1782, Dự Vũ là tay chân của Trịnh Khải xúi kiêu binh (lính Tam phủ) nổi loạn, giết chết Hoàng Đình Bảo, truất ngôi Trịnh Cán và giáng xuống làm Cung quốc công.

· Trịnh Khải (1782 – 1786) : cầm quyền từ năm 1782 tới năm 1786, ở giai đoạn tan rã của tập đoàn phong kiến họ Trịnh.

· Trịnh Bồng (1786 – 1787) : Cơ nghiệp của họ Trịnh thời Trịnh Khải đã suy yếu. Kiêu binh làm loạn, triều đình bất lực. Phía nam, quân Tây Sơn thế mạnh như nước, vua Thái Đức Nguyễn Nhạc cử em là Nguyễn Huệ cùng tướng cũ của Bắc Hà mới về hàng là Nguyễn Hữu Chỉnh mang quân bắc tiến ra Thăng Long.

Quân Trịnh thường ngày đã chểnh mảng việc phòng bị, gặp phải sức tiến công của quân Tây Sơn đã nhanh chóng tan rã. Quân Tây Sơn với khẩu hiệu “Phù Lê diệt Trịnh”, chỉ trong 1 tháng đã chiếm được Thăng Long.

Chúa Nguyễn (1558-1802)

· Chúa Tiên (1558 – 1613) : Húy là Nguyễn Hoàng, trong suốt 55 năm cai trị Thuận Hóa-Quảng Nam, ông vừa là một vị tướng mưu lược, vừa là một vị chúa khôn ngoan lại có lòng nhân đức, thu phục hào kiệt, vỗ về dân chúng và lo phát triển kinh tế, cho nên dân chúng Thuận Quảng cảm mến, gọi ông là Chúa Tiên.

· Chúa Sãi (1613 – 1635) : Húy là Nguyễn Phúc Nguyên, Chúa Sãi là nhân vật có vai trò then chốt trong cuộc nội chiến Trịnh- Nguyễn. Một cuộc nội chiến ác liệt, kéo dài và không phân thắng bại. Nhưng chế độ Đàng Trong của chúa Nguyễn đã thực thi những chính sách cai trị cách tân, khác với Đàng Ngoài, lúc đó đang theo xu hướng hoài cổ Nho giáo thời Lê sơ, kìm hãm sự phát triển của xã hội. Về mặt khách quan cuộc nội chiến có lợi cho xu thế phát triển của lịch sử dân tộc.

Ông đã tạo nên 1 nền ngoại thương hàng hải mạnh, với thương cảng Hội An trở thành thương cảng chính không chỉ của Đàng Trong mà trên toàn khu vực tương đương với Việt Nam và Đông Nam Á. Ông là vị chúa đầu tiên xây dựng cơ nghiệp Đàng Trong của nhà Nguyễn với ý chí cương quyết, tạo nên một xứ Đàng Trong độc lập, tự chủ. Ông đã chỉnh đốn việc cai trị, củng cố quốc phòng, biết dùng người tài để chăm lo việc nước nên nhân dân được an cư lạc nghiệp. Ngoài ra, ông còn đẩy lui được các cuộc tấn công của chúa Trịnh ở Đàng Ngoài.

· Chúa Thượng (1635 – 1648) : Húy là Nguyễn Phúc Lan. Năm 1631, chúa Thượng cấm không cho người Tây vào giảng đạo ở trong nước.

· Chúa Hiền (1648 – 1687) : Húy là Nguyễn Phúc Tần. Năm 1674, Chúa Nguyễn mở khoa thi gọi là thi chính đồ và thi hoa văn. Thi chính đồ chia ra làm ba kỳ: Kỳ đệ nhất thi tứ lục, kỳ đệ nhị thi thơ phú, kỳ đệ tam thi văn sách. Thi hoa văn thì cũng phải ba ngày, mỗi ngày chỉ phải làm có một bài thơ mà thôi. Ai đậu thì được bổ vào làm việc ở Tam ti. Quan tri phủ tri huyện làm sơ khảo, quan cai bạ, ký lục, vệ úy làm giám khảo. Những quyển đậu, thì chia ra làm ba hạng: Hạng thứ nhất gọi là giám sinh, được bổ ra làm tri phủ, tri huyện; hạng thứ nhì gọi là sinh đồ được bổ làm huấn đạo; hạng thứ ba cũng gọi là sinh đồ được bổ làm lễ sinh, hoặc làm nhiêu học.

Năm 1644, chúa Hiền ở bắt giết những người đi giảng đạo ở Đà Nẵng. Năm 1686, có người Pháp tên là Verret được phép mở cửa hàng ở cù lao Côn Lôn.

· Chúa Nghĩa (1687 – 1691) : Húy là Nguyễn Phúc Thái, Chúa Nghĩa là người nổi tiếng rộng rãi, giảm nhẹ hình phạt, thuế khoá, trọng dụng quan lại cũ, trăm họ đều vui mừng. Chúa quy định lại tang phục cho có lợi, bởi vì vào thời ấy, mỗi khi có quốc tang thì người dân dù người già, trẻ con đều la khóc kêu gào, bỏ việc đồng áng, lao động. Chúa quy định người trong tông thất và thân trần để tang 3 năm; cai đội trở lên để tang 2 tuần; Nội ngoại đội chưởng, văn chức, câu kê để tang đến giỗ đầu; còn quân dân để tang đến Tết Trung nguyên (Rằm tháng Bảy).

· Quốc Chúa (1691 – 1725) : Húy là Nguyễn Phúc Chu, khi mới lên ngôi, ông quan tâm chiêu hiền đãi sĩ, cầu lời nói thẳng, nạp lời can gián, bỏ xa hoa, bớt chi phí, nhẹ thuế má lao dịch, bớt hình ngục. Ông còn cho xây dựng một loạt chùa miếu, mở hội lớn ở chùa Thiên Mụ, chùa Mỹ Am. Bản thân chúa cũng ăn chay ở vường Côn Gia một tháng trời, phát tiền gạo cho người nghèo. Bờ cõi yên ổn do chiến tranh Trịnh – Nguyễn đã tạm ngừng 30 năm.

· Chúa Ninh (1725 – 1738) : Húy là Nguyễn Phúc Chú, năm Bính Ngọ (1726), chúa Ninh ban bố các điều răn, đại ý là khuyên dân siêng năng cày cấy và cấm đứt nạn rượu chè, cờ bạc. Tháng 4 năm Kỷ Dậu (1729), chúa Ninh bắt đầu cho lập trường đúc tiền. Mùa hạ năm 1737, triều đình định lại quan chế, cải cách sắc phục, thay đổi phong tục, mọi người đều theo lối mới, tránh cái thô lậu của Bắc hà từ trước tới nay (lúc ấy từ sông Linh Giang thuộc châu Bố Chính trở vào Nam gọi là Nam hà, trở ra Bắc gọi là Bắc hà). Miền Nam từ đây rạng rỡ một vùng y quan văn vật.

· Vũ Vương (1738 – 1765) : Húy là Nguyễn Phúc Khoát, Vũ Vương thông minh, cương nghị, cả quyết, việc gì định làm thì nhất quyết làm cho bằng được, nên đôi khi tàn nhẫn… Ông được nhiều nhân tài phù tá, nổi bật nhất là tướng Nguyễn Cư Trinh, nhờ đó mà việc nội trị và ngoại giao đều tốt đẹp.

· Định Vương (1765 – 1777) : Húy là Nguyễn Phúc Thuần, nhà Nguyễn đến thời kì suy vong do bị nạn quyền thần lấn lướt, Phúc Thuần nhỏ tuổi, lại bị bất ngờ đưa lên ngôi, trở nên bỡ ngỡ trên ngai vàng. Mọi quyền hành đều do Trương Phúc Loan thao túng. Loan tự nhận là Quốc phó, giữ Bộ Hộ, quản cơ Trung tượng kiêm Tàu vụ. Thực tế người này thâu tóm mọi quyền lực về chính trị và kinh tế. Thuế sản vật các mỏ vàng Thu Bồn, Đồng Hương, Trà Sơn, Trà Vân… đều rơi vào tay Loan, hàng năm Loan chỉ nộp vào ngân sách quốc gia 1-2 phần mười số thu được. Sử sách còn ghi lại rằng ngày nắng, Loan cho phơi của cải châu báu ra sân làm sáng rực cả một góc trời. Cả nhà họ Trương chia nhau nắm giữ mọi chức vụ chủ chốt. Người bấy giờ gọi là Trương Tần Cối.

· Tân Chính Vương (1777) : Húy là Nguyễn Phúc Dương, năm 1773, quân nổi dậy Nguyễn Nhạc đánh chiếm Quy Nhơn. Mấy tháng sau đó, quân Tây Sơn từ Quy Nhơn kéo ra đánh lấy Quảng Nam, quân chúa Nguyễn đánh không nổi, thua trận rồi lui về đóng ở Trà Sơn. Liệu chống giữ không được, Nguyễn Phúc Thuần cùng người cháu là Nguyễn Phúc Ánh xuống thuyền chạy về Gia Định, trong khi Đông cung Dương được lệnh ở lại trông coi Quảng Nam. Năm 1777 Nguyễn Lữ dẫn quân Tây Sơn đánh Sài Côn, Nguyễn Phúc Dương thấy quân ít, thiếu lương không thể chống cự được, ông hứa với Nguyễn Lữ là sẽ nạp mình nếu quân và dân trong đồn không bị thảm sát. Nguyễn Lữ bằng lòng, nhưng ngay năm đó ông và 18 người đi theo đều bị giải về Gia Định và bị sát hại. Những người dòng họ chúa Nguyễn bị bắt cũng đều bị Tây Sơn thảm sát, trừ Nguyễn Phúc Ánh.

· Nguyễn Vương (1780 – 1802) : Húy là Nguyễn Phúc Ánh, sau chừng một tháng trốn chạy quân Tây Sơn, khi Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ đã về Quy Nhơn thì Nguyễn Ánh lại xuất hiện ở Long Xuyên, tiến lên Sa Đéc với Đỗ Thanh Nhơn và Lê Văn Quân; ông ra hịch cáo quân và thu nhận được thêm một đội quân cùng các tướng Nguyễn Văn Hoằng, Tống Phước Khuông, Tống Phước Luông và Hồ Văn Lân… Tháng 11 năm 1777, ông tập hợp một đạo quân mặc toàn áo tang bất ngờ tấn công dinh Long Hồ và sau đó nhanh chóng đuổi quan trấn thủ Tây Sơn tại Gia Định là Tổng đốc Chu (hay Tổng đốc Châu), lấy lại thành Sài Gòn tháng 12 cùng năm. Sau khi chiếm được Phú Xuân, Nguyễn Ánh làm lễ lên ngôi hoàng đế ngày 2 tháng 5 (âm lịch) năm Nhâm Tuất (1802). Để tượng trưng sự thống nhất Nam-Bắc lần đầu tiên sau nhiều năm, Nguyễn Ánh chọn niên hiệu là Gia Long, Gia lấy từ Gia Định và Long lấy từ Thăng Long. Sau đó ông sai Lê Văn Duyệt kéo quân tiếp ra Bắc Hà diệt hoàn toàn nhà Tây Sơn.

Nhà Tây Sơn (1778 – 1802)

· Thái Đức (1778 – 1793) : Húy là Nguyễn Nhạc, vua Thái Đức Nguyễn Nhạc là người phát động phong trào Tây Sơn. Ông là người đóng vai trò quan trọng nhất trong việc gây dựng phong trào buổi đầu cho đến khi dựng thành một cơ đồ riêng. Vua em Nguyễn Huệ trẻ trung, hùng lược (khi khởi nghĩa mới 18 tuổi) sở dĩ sau này lập được nhiều chiến công hiển hách cũng nhờ vào cơ sở gây dựng ban đầu của ông.

· Quang Trung (1788 – 1792) : Húy là Nguyễn Huệ, Quang Trung Nguyễn Huệ là hoàng đế bách chiến bách thắng, lập nhiều chiến tích quân sự nhất trong lịch sử Việt Nam. Cả cuộc đời binh nghiệp của ông, dù dưới danh hiệu Long Nhương tướng quân[e], Bắc Bình vương hay hoàng đế Quang Trung, ông đều lập công trạng hiển hách, chưa từng thất bại một trận nào.[54] Do những chiến tích vang dội, Nguyễn Huệ được các giáo sĩ Tây phương so sánh với Alexandros Đại Đế và Attila.

Những chiến công nổi bật nhất của Nguyễn Huệ:
– Đánh Gia Định, bắt hai chúa Nguyễn (1777).
– Chiến thắng 5 vạn quân Xiêm ở Rạch Gầm, Xoài Mút (1785)
– Hạ thành Phú Xuân (1786)
– Tiến đánh Thăng Long (1786)
– Cuộc chiến với 30 vạn quân nhà Thanh (1789): Trận Ngọc Hồi, Trận Đống Đa

· Cảnh Thịnh (1792 – 1802) : Húy là Nguyễn Quang Toản. Mùa xuân năm 1802, Nguyễn Ánh tiến ra Thăng Long, quân Tây Sơn hoàn toàn tan vỡ. Nguyễn Quang Toản bỏ thành cùng với em là Nguyễn Quang Thùy và đô đốc Tú qua sông Nhĩ Hà chạy về hướng bắc. Sau đó, Quang Thùy và vợ chồng Tú đều tự thắt cổ. Còn vua cùng các bề tôi đều bị thổ hào Kinh Bắc bắt được đóng cũi giao nộp cho Nguyễn Ánh. Quan lại của nhà Tây Sơn ở các trấn hoặc trốn, hoặc hàng, không ai dám chống lại. Gia Long về Phú Xuân, sửa lễ cáo miếu dâng tù, đem Nguyễn Quang Toản ra dùng cực hình giết chết, rồi bố cáo cho khắp cả nước đều biết. Quang Toản cùng những người con khác của anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ đều bị Gia Long sai dùng cực hình 5 voi xé xác. Còn Nguyễn Huệ, Nguyễn Nhạc mồ mả bị khai quật, hài cốt bị giã nát vứt đi; đầu lâu của Nhạc, Huệ, Toản đều bị giam ở nhà Đồ Ngoại, sau lại đưa vào cấm cố vĩnh viễn trong ngục thất.

Nhà Nguyễn (1802 – 1945)

· Gia Long (1802 – 1820) : Húy là Nguyễn Phúc Ánh. Cuối đời Tây Sơn chính sự thối nát, phong tục hủy hoại nên việc cai trị rất khó khăn, Gia Long phải sắp đặt từ đầu, sửa sang phong tục. Ông đã xếp đặt lại cơ cấu điều hành quốc gia: Nội cung, không đặt hoàng hậu; quan lại, không đặt chức Tể tướng để tránh lộng quyền, tổ chức đại khái theo chế độ nhà Lê: tổ chức triều đình gồm có lục bộ là: Lại, Công, Lễ, Hộ, Binh, Hình do thượng thư (tương đương nhự bộ trưởng ngày nay) đứng đầu và tả hữu thị lang giúp việc đô sát viện do Tả, Hữu đô ngự sử đứng đầu với hoạt động can gián vua và đàn hặc các quan; ấn định quyền hạn các chức tước, lương bổng, văn võ theo các cấp bậc. Ông cũng cho thi hành chế độ tiền dưỡng liêm để phòng trừ tệ nạn tham nhũng trong hàng ngũ quan lại nhà Nguyễn.

Về mặt hành chính, Gia Long phân chia Việt Nam thành 2 tổng trấn: (Bắc Hà, Nam Hà), 2 vùng (miền Trung và Kinh kỳ). Gồm 23 trấn và 4 doanh.

Về mặt nông nghiệp, ruộng đất cũng được quản lý bằng các điền bạ ghi rõ về tình trạng, vị trí thứ hạng đất ruộng. Mỗi làng làm 3 quyển gửi lên bộ đóng dấu, 1 quyển sẽ lưu lại bộ, 1 quyển lưu lại tỉnh và 1 quyển gửi trả về làng. Bên cạnh đó, để bảo đảm đất cày cho mọi người nông dân, Gia Long ngay từ khi mới lên ngôi đã ra lệnh cấm trao đổi buôn bán ruộng công; và quy định chặt chẽ việc cầm cố loại công điền công thổ trong đó cho phép điển cố[e] tối đa 3 năm. Ngoài ra, Gia Long còn cho ban Lệ quân điền về cũng về vấn đề ruộng công này, trong đó thời hạn chia ruộng đất được rút xuống ba năm và đối tượng chia ruộng trước hết nhằm ưu đãi quan lại và quân lính. Tuy nhiên, chính sách này không hiệu quả lắm do tỉ lệ ruộng công còn rất ít, mà tỉ lệ cấp lại lớn hơn hẳn thời Lê Sơ. Và tình trạng người dân không có đất vẫn còn là một vấn đề. Nhà Nguyễn thời vua Gia Long nhìn chung rất đề cao và khuyến khích nông nghiệp tuy nhiên lại tỏ ra thiếu kinh nghiệm trị thủy các vùng phía Bắc dù cho nhà vua đã cho đầu tư đắp đê không ít.

Dưới thời Gia Long, việc thu thuế được tổ chức lại, phân ra nhiều thứ thuế kèm theo các chính sách quản lý và miễn trừ thích hợp. Thứ thuế quan trọng đầu tiên là thuế điền (hay thuế ruộng, thuế tính trên ruộng): ruộng được chia làm 4 hạng (Nhất đẳng, Nhị đẳng, Tam đẳng và Đồng niên) chịu 3 mức thuế khác nhau qua hình thức nộp thóc (20, 15 & 10 thăng thóc).

Đồng thời với tiền tệ là việc đo lường: vua Gia Long cho chuẩn hóa lại các thước vuông đo ruộng có trước đó, chế ra thước đo ruộng mới là loại thước đồng hai mặt khắc chữ: một mặt Gia Long cửu niên thu bát nguyệt và mặt kia là ban hành đạc điền xích, công bộ đường kính tạo. Năm 1813, vua Gia Long cho làm ra cân thiên bình, cấp cho các doanh, trấn, để dùng vào việc cân đo kim loại và sản vật địa phương. Riêng hai kim loại màu là vàng và bạc thì dùng cân trung bình

· Minh Mạng (1820 – 1841) : Húy là Nguyễn Phúc Đảm, Minh Mạng là một ông vua năng động và quyết đoan, Minh Mạng đã đề xuất hàng loạt cải cách từ nội trị đến ngoại giao. Ông cho lập thêm Nội các và Cơ mật viện ở kinh đô Huế, bãi bỏ chức tổng trấn Bắc thành và Gia Định thành, đổi trấn thành tỉnh, củng cố chế độ lưu quan ở miền núi. Dưới thời ông, quân đội nhà Nguyễn được tổ chức lại, chia thành bộ binh, thủy binh, tượng binh, kị binh và pháo thủ binh. Minh Mạng còn cử quan ra chỉ đạo khai hoang ở ven biển Bắc kỳ và Nam kỳ. Là người tinh thông Nho học và sùng đạo Khổng Mạnh, Minh Mạng rất quan tâm đến việc học tập và củng cố thi cử, năm 1822 ông mở lại các kì thi Hội, thi Đình ở kinh đô để tuyển chọn nhân tài.

Tuy nhiên, dưới triều Minh Mạng đã có nhiều cuộc nổi dậy diễn ra: Phan Bá Vành, Lê Duy Lương, Nông Văn Vân,… ở miền Bắc và Lê Văn Khôi ở miền Nam. Triều đình đã phải vất vả đối phó với những cuộc nổi dậy ấy.

Năm 1823, Minh Mạng đã làm bài Đế hệ thi để quy định các chữ lót đặt tên cho con cháu các thế hệ sau. Bài Đế Hệ Thi gồm 20 chữ, dùng làm chữ lót tên cho mỗi thế hệ từ con vua Minh Mạng trở về sau.

MIÊN HƯỜNG ƯNG BỬU VĨNH
BẢO QUÝ ĐỊNH LONG TRƯỜNG
HIỀN NĂNG KHAM KẾ THUẬT
THẾ THOẠI QUỐC GIA XƯƠNG

Vua Minh Mạng cũng ban cho dòng họ của các con vua Gia Long 10 bài phiên hệ thi.
Minh Mạng đã có tới 142 người con, gồm 78 hoàng tử và 64 công chúa:

Hoàng tử :

01 Nguyễn Phúc Miên Tông 02. Nguyễn Phúc Miên Chính
03. Nguyễn Phúc Miên Định 04. Nguyễn Phúc Miên Nghi
05. Nguyễn Phúc Miên Hoành 06. Nguyễn Phúc Miên Áo
07. Nguyễn Phúc Miên Thần 08. Nguyễn Phúc Miên Phú
09. Nguyễn Phúc Miên Thủ 10.Nguyễn Phúc Miên Thẩm
11. Nguyễn Phúc Miên Trinh 12.Nguyễn Phúc Miên Bửu
13. Nguyễn Phúc Miên Trữ 14. Nguyễn Phúc Miên Hưu
15. Nguyễn Phúc Miên Hựu 16. Nguyễn Phúc Miên Vũ
17. Nguyễn Phúc Miên Tống 18. Nguyễn Phúc Miên Thành
19. Nguyễn Phúc Miên Tề 20. Tảo thương (*)
21. Nguyễn Phúc Miên Nghi 22. Nguyễn Phúc Miên Long
23. Nguyễn Phúc Miên Tích 24. Tảo thương (*)
25. Tảo thương (*) 26. Nguyễn Phúc Miên Cung
27. Nguyễn Phúc Miên Phong 28. Nguyễn Phúc Miên Trạch
29. Nguyễn Phúc Miên Liêu 30. Nguyễn Phúc Miên Mật
31. Nguyễn Phúc Miên Lương 32. Nguyễn Phúc Miên Gia
33. Nguyễn Phúc Miên Khoan 34. Nguyễn Phúc Miên Hoan
35. Nguyễn Phúc Miên Túc 36. Nguyễn Phúc Miên Quang
37. Nguyễn Phúc Miên Tuấn 38. Tảo thương (*)
39. Tảo thương (*) 40. Nguyễn Phúc Miên Quân
41. Nguyễn Phúc Miên Kháp 42. Nguyễn Phúc Miên Thăng
43. Nguyễn Phúc Miên Tịnh 44. Nguyễn Phúc Miên Thể
45. Nguyễn Phúc Miên Dần 46. Tảo thương (*)
47. Nguyễn Phúc Miên Cư 48. Nguyễn Phúc Miên Ngôn
49. Nguyễn Phúc Miên Sạ 50. Tảo thương (*)
51. Nguyễn Phúc Miên Thanh 52. Nguyễn Phúc Miên Tỉnh
53. Nguyễn Phúc Miên Sủng 54. Nguyễn Phúc Miên Ngô
55. Nguyễn Phúc Miên Kiều 56. Nguyễn Phúc Miên Miêu
57. Nguyễn Phúc Miên Lâm 58. Nguyễn Phúc Miên Tiệp
59. Nguyễn Phúc Miên Quãng 60. Nguyễn Phúc Miên Uyển
61. Nguyễn Phúc Miên Ôn 62. Nguyễn Phúc Miên Tru
63. Nguyễn Phúc Miên Khê 64. Nguyễn Phúc Miên Ngử
65. Nguyễn Phúc Miên Tả 66. Nguyễn Phúc Miên Triện
67. Nguyễn Phúc Miên Thất 68. Nguyễn Phúc Miên Bảo
69. Nguyễn Phúc Miên Khách 70. Nguyễn Phúc Miên Thích
71. Nguyễn Phúc Miên Điều 72. Nguyễn Phúc Miên Hoang
73. Nguyễn Phúc Miên Chí 74. Nguyễn Phúc Miên Thân
75. Nguyễn Phúc Miên Ký 76. Nguyễn Phúc Miên Bàng
77. Nguyễn Phúc Miên Sách 78. Nguyễn Phúc Miên Lịch

(*) chết lúc mới sinh ra

Công chúa :

01. Nguyễn Phúc Ngọc Tông 02. Nguyễn Phúc Khuê Gia
03. Nguyễn Phúc Uyển Diễm 04. Nguyễn Phúc Lương Đức
05. Nguyễn Phúc Quang Tĩnh 06. Nguyễn Phúc Hoà Đức
07. Nguyễn Phúc Trình Đức 08. Nguyễn Phúc Nhu Thuận
09. Nguyễn Phúc Nhu Thục 10. Nguyễn Phúc Đoan Thuận
11. Nguyễn Phúc Đoan Trinh 12. Nguyễn Phúc Vĩnh Gia
13. Nguyễn Phúc Đoan Thận 14. Nguyễn Phúc Nhàn Thận
15. Nguyễn Phúc Gia Trinh 16. Nguyễn Phúc Gia Tiết
17. Nguyễn Phúc Vĩnh Thuỵ 18. Nguyễn Phúc Vĩnh Trinh
19. Tảo thương (*) 20. Nguyễn Phúc Thục Thận
21. Nguyễn Phúc Thục Tĩnh 22. Nguyễn Phúc Trang Tĩnh
23. Nguyễn Phúc Trang Nhàn 24. Nguyễn Phúc Gia Thuỵ
25. Nguyễn Phúc Trinh Thận 26. Nguyễn Phúc Trinh Nhàn
27. Nguyễn Phúc Tường Hoà 28. Nguyễn Phúc Tường Tĩnh
29. Nguyễn Phúc Nhàn Thục 30. Nguyễn Phúc Nhàn Trinh
31. Nguyễn Phúc Thuỵ Thận 32. Nguyễn Phúc Thuỵ Thục
33. Tảo thương (*) 34. Nguyễn Phúc Tĩnh Hoà
35. Tảo thương (*) 36. Nguyễn Phúc Lương Trinh
37. Nguyễn Phúc Gia Trang 38. Nguyễn Phúc Gia Tĩnh
39. Nguyễn Phúc Thục Tuệ 40. Nguyễn Phúc Nhàn Tĩnh
41. Nguyễn Phúc Nhàn An 42. Nguyễn Phúc Tĩnh An
43. Nguyễn Phúc Thục Tư 44. Nguyễn Phúc Nhu Nghi
45. Tảo thương (*) 46. Nguyễn Phúc Phương Trinh
47. Nguyễn Phúc Hoà Thận 48. Nguyễn Phúc Hoà Nhàn
49. Nguyễn Phúc Nhan Huệ 50. Nguyễn Phúc An Nhàn
51. Nguyễn Phúc Nhu Hoà 52. Nguyễn Phúc Hoà Trinh
53. Nguyễn Phúc Lương Nhàn 54. Nguyễn Phúc Trinh Hoà
55. Nguyễn Phúc Lương Tĩnh 56. Nguyễn Phúc Trinh Tĩnh

(*) chết lúc mới sinh ra

· Thiệu Trị (1841 – 1847) : Húy là Miên Tông, vua Thiệu Trị là một người hiền hoà, siêng năng cần mẫn nhưng không có tính hoạt động như vua cha. Mọi định chế pháp luật, hành chính, học hiệu, điền địa và binh bị đều được sắp đặt khá quy củ từ thời Minh Mạng, Thiệu Trị chỉ áp dụng theo các định lệ của vua cha, ít có sự cải cách, thay đổi gì mới. Quan lại lúc bấy giờ có Trương Đăng Quế, Lê Văn Đức, Doãn Uẩn, Võ Văn Giải, Nguyễn Tri Phương và Lâm Duy Tiếp ra sức phò tá.

· Tự Đức (1847 – 1883) : Húy là Hồng Nhậm, Tự Đức là một vị vua chăm chỉ về việc trị dân, ngay từ năm Canh Tuất (1850) vua sai Nguyễn Tri Phương làm Kinh lược đại sứ 6 tỉnh Nam kỳ, Phan Thanh Giản làm Kinh lược đại sứ Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa và Bình Thuận, Nguyễn Đăng Giai làm Kinh lược đại sứ Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa. Các đại thần này đi khám xét công việc các quan lại và sự làm ăn trong dân gian, có điều gì hay dở phải dâng sớ tâu về kinh đô cho vua biết. Dù vậy, tại Bắc kỳ có 40 cuộc nổi loạn dưới triều Tự Đức.

Tự Đức khước từ mọi giao thiệp với người phương Tây, dầu việc giao thiệp chỉ nhằm phục vụ thương mại. Mãi đến khi Gia Định bị Pháp chiếm đóng, việc ngoại giao giữa triều đình với các nước phương Tây khó khăn, Tự Đức mới thay đổi chính sách, đặt ra Bình Chuẩn Ty để lo buôn bán và Thượng Bạc Viện để giao thiệp với người nước ngoài nhưng không có kết quả vì những người được ủy thác vào các việc này không được học hành gì về ngoại giao.

Sau khi lên ngôi vào năm 1848 thì vua Tự Đức đã có dụ cấm đạo Công giao. Tự Đức nhận xét về Công giáo “Họ bảo Thiên Chúa tức là Thượng đế, Thượng đế là chúa tể của trời, tức là sáng tạo ra trời đất, vạn vật. Họ lại nói Thiên chúa không phải là trời, không phải là đất, không phải là lý, không phải là đạo, không phải là khí, không phải là tính, không phải là người, không phải là vật, không phải là quỉ, không phải là thần, đó là đầu mối của vạn vật, mà chính mình không bắt đầu từ đâu cả… đem so với Lão Tử khi nói “Vô danh là bắt đầu của trời vật, Đạo sinh ra một, một sinh ra hai” mới thấy thuyết của Gia Tô lại càng xuyên tạc thô sơ, họ chỉ biết mượn Thiên Chúa để che giấu cái dấu tích Gia Tô, và để làm văn hoa cho sự lầm lỗi vì đã thờ phụng xằng mà không kể gì đến gốc tích nữa“.

· Dục Đức (1883) : Húy là Ưng Chân, Tự Đức mất để di chiếu truyền ngôi cho Ưng Chân, nhưng trong di chiếu có đoạn viết: “… Nhưng vì có tật ở mắt nên hành vi mờ ám sợ sau này thiếu sáng suốt, tính lại hiếu dâm cũng là điều chẳng tốt chưa chắc đã đảm đương được việc lớn. Nước có vua lớn tuổi là điều may cho xã tắc, nếu bỏ đi thì biết làm sao đây.” Các quan Phụ chính Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết dâng sớ lên vua Tự Đức xin bỏ mấy đoạn có liên quan đến tính nết xấu của tự quân và câu “không chắc đảm đương nổi việc lớn” nhưng vua Tự Đức từ chối. Ưng Chân lên ngôi kế vị ngày 19 tháng 7 năm 1883.

Hai Phụ chính Đại thần là Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường bèn dâng lên Hoàng thái hậu Từ Dụ tờ hạch tội buộc cho vua Dục Đức bốn tội lớn: Muốn sửa di chiếu của vua cha, Có đại tang mà mặc áo màu, Tự tiện đưa một giáo sĩ vào Hoàng thanh và Thông dâm với nhiều cung nữ của vua cha. Sau khi nhận được sự đồng ý của Hoàng thái hậu Từ Dụ và Hoàng quý phi Vũ Thị Duyên, hai quan Phụ chính liền ra chỉ phế truất ông vào ngày 23 tháng 7 năm 1883.

· Hiệp Hòa (1883) : Húy là Hồng Dật, vua Hiệp Hòa cũng muốn nhận chính sách bảo hộ để cho yên ngôi vua, nhưng các quan có nhiều người không chịu, và lại thấy Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết chuyên chế thái quá, muốn dùng kế mà trừ bỏ đi, bèn đổi Nguyễn Văn Tường sang làm Binh bộ Thượng thư, Tôn Thất Thuyết làm Lại bộ Thượng thư, để bớt binh quyền của Tôn Thất Thuyết. Hai người thấy vua có lòng nghi, sợ để lâu thành vạ, bèn vào tâu với bà Từ Dụ Thái hậu để lập ông Dưỡng Thiện là con nuôi thứ ba vua Dực Tông, rồi bắt vua Hiệp Hòa đem ra phủ ông Dục Đức cho uống thuốc độc chết. Vua Hiệp Hòa làm vua được hơn 4 tháng, sử gọi là Phế Đế.

· Kiến Phúc (1883 – 1884) : Húy là Ưng Đăng, năm 1884 đại diện Pháp là Patenôtre ký tờ hòa ước mới với triều đình nhà Nguyễn. Đó là Hòa ước Giáp Thân, công nhận cuộc bảo hộ của Pháp và chia nước Việt ra làm hai khu vực là Trung Kỳ và Bắc Kỳ. Vua Kiến Phúc tại vị được 8 tháng thì qua đời.

· Hàm Nghi (1884 – 1885) : Húy là Ưng Lịch, năm 1884 Hàm Nghi được các phụ chính đại thần Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết đưa lên ngôi ở tuổi 13. Sau khi cuộc phản công tại kinh thành Huế thất bại năm 1885, Tôn Thất Thuyết đưa ông ra ngoài và phát hịch Cần Vương chống Pháp.

Bị bắt vào tháng 9 1888 và bị đưa đi an trí ở Alger thủ đô của Algérie. Ông qua đời vào năm 1943.

· Đồng Khánh (1885 – 1889) : Húy là Ưng Kỷ, năm 1885 khi vua Hàm Nghi đã thoát ly triều đinh, khởi nghĩa chống Pháp Thống tướng de Courcy sai de Champeaux lên yết kiến Nghi Thiên Hoàng thái hậu để xin lập Ưng Kỷ lên làm vua.

· Thành Thái (1889 – 1907) : Húy là Bửu Lân, Triều Thành Thái khác các triều trước ở chỗ lễ đǎng quang không có Truyền quốc bửu tỷ ấn ngọc. Lúc trước, khi rời khỏi kinh thành Huế, vua Hàm Nghi đã mang theo và đánh mất tại tỉnh Quảng Bình. Cho nên lúc tại vị vua Đồng Khánh đã phải dùng một ấn ngọc khác. Ngoài ra, di chiếu cũng không có. Vua Dục Đức hay vua Đồng Khánh không truyền ngôi lại cho vua Thành Thái. Không ấn ngọc, không di chiếu, nhưng lại có một toán lính Pháp bồng súng đóng ở bên trong cửa Ngọ Môn. Thành Thái được đánh giá là người cầu tiến, yêu nước và chống Pháp. Khác với những vị vua trước đây, ông học chữ Nho, học tiếng Pháp và cũng cho cả con cái của mình cùng theo học chữ Pháp. Không nói ra, nhưng rõ ràng ý định của ông là học chữ Pháp để có thể giao tiếp với những người này với tinh thần chống Pháp. Ông còn cắt tóc ngắn, mặc âu phục, học cả lái ca nô, xe hơi, làm quen với vǎn minh phương Tây. Là vị vua gần gũi với dân chúng, ông thường xuyên đi vi hành.

Trước các ý tưởng cấp tiến của Thành Thái, người Pháp lo ngại tìm cách ngăn trở. Để che mắt, Thành Thái giả hành động như một người mất trí. Khi các bản vẽ vũ khí của ông bị phát hiện, Thành Thái giả điên, cào cấu các bà cung phi và xé nát các bản vẽ. Lợi dụng cơ hội này, người Pháp vu cho ông bị điên, ép ông thoái vị, nhường ngôi cho con vì lý do sức khỏe. Khâm sứ Pháp còn nói thẳng là đã biết ông có ý đồ chống Pháp, nên không để ông ở ngôi được. Còn nếu Thành Thái muốn tại vị thì ông phải ký vào một tờ giấy xin lỗi, tuyên bố với quốc dân là có âm mưu chống lại nước Pháp, nay phải thành thực hồi tâm. Nhưng ông đã ném tờ tuyên cáo thảo sẵn ấy xuống đất, từ chối. Ngày 3 tháng 9 năm 1907, triều thần theo lệnh của Pháp vào điện Càn Thành dâng vua dự thảo chiếu thoái vị, có chữ ký của các đại thần (trừ Ngô Đình Khả), với lý do sức khoẻ không bảo đảm, xin tự nguyện thoái vị. Xem xong bản dự thảo, Thành Thái chỉ cười, ghi ngay hai chữ “phê chuẩn” rồi quay lưng đi vào. Ngày 12 tháng 9 năm 1907, Thành Thái bị đưa đi quản thúc ở Cap Saint Jacques (Vũng Tàu ngày nay). Đến nǎm 1916 ông bị đày ra đảo Réunion cùng với con trai là vua Duy Tân.

· Duy Tân (1907 – 1916) : Húy là Vĩnh San, lên ngôi lúc mới 8 tuổi, năm 13 tuổi, ông xem lại những hiệp ước mà hai nước Việt-Pháp đã ký. Nhà vua cảm thấy việc thi hành của hiệp ước ấy không đúng với những điều kiện mà hai bên đã ký kết với nhau nên một hôm giữa triều đình, nhà vua tỏ ý muốn cử ông Nguyễn Hữu Bài là người giỏi tiếng Pháp sang Pháp để yêu cầu duyệt lại hiệp ước ký năm 1884 (Patenôtre). Nhưng cả triều đình không ai dám nhận chuyến đi đó. Năm 15 tuổi, vua Duy Tân đã triệu tập cả sáu ông đại thần trong Phụ chính, bắt buộc các vị phải ký vào biên bản để đích thân vua sẽ cầm qua trình với toà Khâm Sứ nhưng các đại thần sợ người Pháp giận sẽ kiếm chuyện nên từ chối không ký và phải xin yết kiến bà Thái hậu để nhờ bà can gián nhà vua. Từ đó không những nhà vua có ác cảm với thực dân Pháp mà còn ác cảm với Triều đình. Duy Tân có Dự định khởi nghĩa chống Pháp với Việt Nam Quang Phục Hội nhưng không thành và bị bắt ngày 6 tháng 5 năm 1916.

Khâm sứ tại Huế Charles và Toàn quyền thuyết phục vua Duy Tân trở lại ngai vàng nhưng ông không đồng ý: « Các ngài muốn bắt buộc tôi phải làm vua nước Nam, thì hãy coi tôi như là một ông vua đã trưởng thành và có quyền tự do hành động, nhất là quyền tự do trao đổi tin tức và ý kiến với chính phủ Pháp ». Vua Duy Tân bị đày đi đảo La Réunion cùng với vua cha Thành Thái vào năm 1916.

· Khải Định (1916 – 1925) : Húy là Bửu Đảo, ngày 20 tháng 5 năm 1922, Khải Định sang Pháp dự Hội chợ thuộc địa ở Marseille. Đây là lần đầu tiên một vị vua triều Nguyễn ra nước ngoài. Dưới thời Khải Định, triều đình Huế không có xích mích với Pháp. Mọi việc đều do Tòa khâm sứ định đoạt. Khải Định cũng kết thân với Khâm sứ Trung kỳ Jean François Eugène Charles và gửi gắm con mình là Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy cho vợ chồng Khâm sứ. Khải Định ở ngôi được 10 năm thì bị bệnh nặng và mất vào ngày 20 tháng 9 năm Ất Sửu tức 6 tháng 11 năm 1925, thọ 40 tuổi.

· Bảo Đại (1926 – 1945) : Húy là Vĩnh Thụy, Bảo Đại đã cải cách công việc trong triều như sắp xếp lại việc nội chính, hành chính. Ông đã cho bỏ một số tập tục mà các vua nhà Nguyễn trước đã bày ra như thần dân không phải quỳ lạy mà có thể ngước nhìn vua khi lễ giá tới, mỗi khi vào chầu các quan Tây không phải chắp tay xá lạy mà chỉ bắt tay vua, các quan ta cũng không phải quỳ lạy. Ông thành lập Viện Dân biểu để trình bày nguyện vọng lên nhà vua và quan chức bảo hộ Pháp và cho phép Hội đồng tư vấn Bắc Kỳ được thay mặt Nam triều trong việc hợp tác với chính quyền bảo hộ, tháng 12 năm 1933, Bảo Đại ra Bắc kỳ thăm dân chúng.

Sau khi Nhật đảo chính Pháp và tuyên bố trao trả độc lập cho Việt Nam. Ngày 11 tháng 3 năm 1945, Bảo Đại ra đạo dụ “Tuyên cáo Việt Nam độc lập”, tuyên bố hủy bỏ Hòa ước Patenôtre ký với Pháp năm 1884, khôi phục chủ quyền Việt Nam, thống nhất Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ. Ngày 18 tháng 8, Bảo Đại đã xác nhận độc lập của Việt Nam sau khi Nhật đầu hàng, được công bố vào tháng 3 và đồng thời gửi một thông điệp đến De Gaulle yêu cầu công nhận nền độc lập của Việt Nam.

Năm 1945, Việt Minh buộc chính quyền Đế quốc Việt Nam giao quyền lực cho họ. Trước tình thế đó, Bảo Đại quyết định thoái vị. Chiều ngày 25 tháng 8, 1945, Bảo Đại đã đọc Tuyên ngôn Thoái vị trước hàng ngàn người tụ họp trước cửa Ngọ Môn và sau đó trao ấn tín, quốc bảo của hoàng triều cho ông Trần Huy Liệu. Ông trở thành “công dân Vĩnh Thụy”. Trong bản Tuyên ngôn Thoái vị, ông có câu nói nổi tiếng “Trẫm muốn được làm dân một nước tự do, hơn làm Vua một nước nô lệ“.

Theo wikipedia

Advertisements
Bài này đã được đăng trong [-]. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s